Tranh đá quý | tranh đá quý đẹp | Chọn tranh đá quý phong thủy theo tuổi | Mua tranh đá quý ở đâu giá rẻ mà chất lượng đẹp và uy tín nhất

Ý nghĩa của một số bức tranh Đông Hồ

Ý nghĩa của một số bức tranh Đông Hồ

Ở bài trước Tranh Đẹp Việt Nam đã giới thiệu tới Quý vị và bạn đọc về dòng tranh dân gian Đông Hồ, nếu chưa đọc xin mời các bạn tham khảo bài viết tại đây.
Hôm nay Tranh Đẹp Việt Nam Blog xin mời các bạn cùng đồng hành và tìm hiểu ý nghĩa của một số bức tranh Đông Hồ dưới đây nhé:

Ý nghĩa của một số bức tranh đông hồ

Bức tranh đầu tiên Tranh Đẹp Việt Nam muốn giới thiệu tới các bạn là bức Đám Cưới Chuột, một trong những bức tranh nổi tiếng nhất của dòng tranh dân gian này.

dam-cuoi-chuot

Tranh dân gian Đông Hồ – Đám Cưới Chuột

Trong dòng tranh Đông Hồ được nhiều người biết tới nhất là bức tranh Đám cưới chuột có từ 500 năm trước – một bức tranh vừa hài hước vừa châm biếm sâu xa. Hài hước ở chỗ, chuột nào lại có chuột đi rước dâu, lấy vợ; nghệ nhân dân gian đã thổi hồn vào bức tranh, nhân hoá con chuột để nó mang dáng dấp con người. Châm biếm ở chỗ chú rể chuột muốn đón dâu phải mang chim, mang cá đến cống cho mèo. Trên bức tranh có hai chữ Nghinh hôn chỉ đám cưới. Con mèo trong bức tranh đại diện cho tầng lớp thống trị xưa. Còn con chuột là hình ảnh của những người nông dân trong xã hội cũ.

Bức tranh không có chú thích gì nhưng nhìn vào ai cũng nhận thấy thâm ý của nghệ nhân dân gian. Chuột ranh ma, tinh quái, đa nghi luôn cảnh giác với loại mèo, kẻ thù không đội trời chung, lại hóm hỉnh châm biếm mèo tham của hối lộ mà quên nhiệm vụ là diệt chuột.

Bức tranh được chia làm hai phần với 12 con chuột và một con mèo. Tầng trên là cảnh chuột dâng lễ cho mèo với bốn con chuột, con đi đầu hai tay dâng lên một con chim, cong người, đuôi gập lại trông vẻ sợ sệt. Con thứ hai xách một con cá đang tiến theo sau, mắt nhìn con mèo vẻ khép nép sợ sệt không kém gì con đầu. Hai con đi cuối thổi kèn nhưng ở tư thế đề phòng bất trắc, khi có chuyện là “vọt” nhanh. Tầng dưới là cảnh đón dâu với tám con chuột. Dẫn đầu là con chuột đực, đầu đội mũ cánh chuồn, mình mặc áo thụng xanh, chân đi hia, ngồi trên lưng con ngựa hồng, quay nhìn về sau vẻ mặt vênh lên tự đắc vì đỗ tiến sĩ vinh qui lại được cưới vợ đẹp. Theo hầu phía sau là một con chuột đen cầm lọng và một con chuột khoang nửa đen nửa trắng cầm biển đề hai chữ “nghinh hôn”. Con cầm lọng vẻ nghiêm trang, con cầm biển thì tinh nghịch luôn quay đầu trở lại nhìn kiệu cô dâu. Bốn con chuột khác thì khiêng kiệu, hai con đi trước nhìn thẳng về phía trước, hai con đi sau thì quay nhìn lại phía sau không biết cố ý cho ta thấy đám rước còn dài hay là trông chừng xem ông mèo có đuổi theo sau không. Cô dâu chuột ngồi trong kiệu cũng vấn khăn, mặc áo gấm xanh nhìn chồng đang cưỡi ngựa đi phía trước vẻ tự hào mãn nguyện. Trong bức tranh hình ảnh đập vào mắt mọi người là con mèo. Con mèo được vẽ ở góc tầng trên phía tay mặt, rất to, oai vệ đang đưa tay ra nhận lễ vật. Và đó là nhân vật chính của bức tranh trào phúng này. Nhìn bức tranh không biết nhà thơ nào đã cho ra đời 4 câu thơ:

Ý nghĩa của một số bức tranh đông hồ

Khôn khổn khồn khôn đã có đuôi
Đỗ cao, cưới vợ tiếng rầm trời
Chú mèo vừa mới vênh đầu ngõ
Lễ cả sai quân đệ tới nơi.

Bốn câu thơ ngắn ngủi nhưng đã tỏ rõ cảnh trong bức tranh chuột vinh quy vẻ vang về làng cưới vợ đẹp. Khôn ngoan, tài giỏi nhưng vẫn không thoát khỏi cảnh cúi đầu đút lót cho chú mèo. Việc làm ấy thực ra chẳng có tác dụng gì, bởi lẽ có khi nào mèo lại làm thân với chuột. Nhận của đút lót nhưng khi gặp chuột, mèo vẫn xơi như thường. Chi tiết đó cho ta thấy được cái tài tình của người xưa. Người dân quê Việt Nam xưa sống trong xã hội phong kiến không dám công khai công kích, phản kháng lại bọn quan tham nhũng, ức hiếp dân lành, nên đã mượn bức tranh chuột cưới vợ để gián tiếp lên án bọn quan tham và bày tỏ thái độ của mình. Bức tranh có cả biển, lọng, cân đai, áo, mão, ngựa hồng, kiệu hoa, kèn trống thật linh đình. Nhưng để có được cảnh vui vẻ đó, họ hàng nhà chuột phải đút lót cho mèo. Bức tranh không chỉ đả kích bọn tham quan mà còn phê phán lối thi cử đời Lê, thời Bảo Thái (1721) người nào có tiền đóng vào gọi là “tiền thông kinh”để xin đi thi thì được, không cần phải khảo hạch. Người đi thi rất đông, kẻ làm ruộng, người bán thịt, người đi buôn… một lũ hỗn độn. Trong phòng thi người lật sách ra chép, người thi hộ như phiên chợ đang họp với kẻ mua người bán mặc cả nhau. Kẻ có tài thực sự thì bị đánh rớt, kẻ dốt nát nhưng có tiền đút lót thì được tuyển chọn làm quan. Đã tốn tiền mua chức quan thì phải tìm cách lấy lại. Cuối cùng, chỉ có dân đen là gánh chịu hậu quả, còn bọn quan thì mặc sức cho đầy túi tham.Ý nghĩa của một số bức tranh đông hồ

Bức tranh thứ 2 chúng ta cùng tìm hiểu ý nghĩa là bức Cóc Rước Trống:

tranh-coc-ruoc-trong

Tranh Cóc Rước Trống

Hai chữ Rước rồng xuất hiện trên bức tranh đi liền với hình ảnh hội hè vui vẻ. Có thể nói, chỉ với hình ảnh con cóc nhưng người nghệ nhân dân gian bằng óc tưởng tượng sáng tạo, độc đáo của mình đã vẽ nên bức tranh Cóc rước rồng nói riêng và 2 bức tranh chuột nói chung hết sức đặc sắc, sinh động.

Bức tranh thứ 3: Bức Chuột Vinh Quy

Ý nghĩa của một số bức tranh đông hồ

tranh-chuot-vinh-quy

Tranh Chuột vinh quy

Trong tranh này, chuột tuy đỗ tiến sĩ (hai chữ này được đề trên tấm biển) vinh quy về làng (hai chữ Vinh quy trên lá cờ) vẫn phải cống nạp cho mèo (ba chữ Miêu thủ lễ). Có người cho rằng, bức tranh này nói tới việc phép vua thua lệ làng trong xã hội xưa.

Tiếp theo chúng ta cùng thưởng lãm và tìm hiểu ý nghĩa của các bức tranh cát tường dưới đây:

tranh-thien-ha-thai-binh

Tranh thiên hạ thái bình

Ý nghĩa của một số bức tranh đông hồ

Tranh tứ linh

tranh-ga-dai-cat

Tranh Gà đại cát 

Ý nghĩa của một số bức tranh đông hồ

Tranh thể hiện một lời chúc tụng và ước vọng cho một cuộc sống may mắn. Trong tiếng Hán, đại kê (gà trống) gần âm với chữ đại cát. Đây là nội dung của một quẻ bói tốt nhất cho công việc hoặc tương lai của con người được sử dụng trong tranh thay cho lời chúc lành mà người ta gửi đến nhau trong ngày xuân. Nội dung trực tiếp của bức tranh là hai chữ “Đại cát”, nhưng nội dung sâu xa của bức tranh lại là con gà trống ở phía dưới.

Trong dân gian xưa và nay có không ít các phương pháp dự đoán tương lai và một trong số những phương pháp đó là xem bói. Một trong những phương pháp bói cổ xưa và khá phổ biến là bói bằng mai rùa, bằng chân gà. Nhưng bản văn cổ nhất của nền văn minh Đông phương nói đến bói toán lại liên quan đến hình ảnh con gà. Đó chính là trù thứ 7 trong Hồng phạm cửu trù. Trù này có tên là Kê Nghi, có nghĩa là hỏi gà. Trong các nền văn hóa cổ xưa nhất của nhân loại còn di sản lưu truyền đến ngày hôm nay, như Ai cập, Ấn Độ, Hi – La và phương Đông… đều tồn tại những phương pháp bói toán. Nhưng chỉ có nền văn hóa phương Đông có hẳn một phương pháp luận cho các phương pháp bói toán này. Đó là thuyết Âm Dương Ngũ hành. (Ý nghĩa của một số bức tranh đông hồ)

Nếu nói theo ngôn ngữ khoa học hiện đại thì từ “bói” gọi nôm na dân dã ấy, có thể gọi là“khả năng dự báo”, “dự đoán”. Nền khoa học hiện đại – bao gồm tất cả mọi ngành khoa học – đã thừa nhận một tiêu chí khoa học là: “Một lí thuyết khoa học chỉ được coi là đúng, nếu nó có khả năng lí giải hầu hết những vấn đề liên quan đến nó”. Và tất nhiên lí thuyết đó phải có khả năng dự báo. Như vậy, xuất phát từ cái nhìn của nền khoa học hiện đại, thì khả năng dự báo chỉ có thể có được sau khi hình thành một lí thuyết. ( Ý nghĩa của một số bức tranh đông hồ )

Trở lại với vấn đề bói toán của nền văn minh phương Đông với một phương pháp luận cho nó là thuyết Âm Dương Ngũ hành. Thuyết Âm Dương Ngũ hành đang tồn tại trên thực tế và hầu hết đều cho rằng có xuất xứ từ văn minh Hoa Hạ. Nhưng cũng cho đến ngày hôm nay – khi bạn đang xem cuốn sách này – không ai chứng minh được sự hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành qua các văn bản chữ Hán; từ những văn bản cổ nhất trải hàng thiên niên kỉ, cho đến cuốn sách mới xuất bản và phát hành ngày hôm qua. Như vậy sự dự báo của thuyết Âm Dương Ngũ hành lại có trước sự hình thành lí thuyết.

Đây là sự phi lí ít nhất theo cái nhìn của nền khoa học hiện đại. Điều này đã chứng tỏ rằng thuyết Âm Dương Ngũ hành đã hoàn chỉnh và tồn tại từ rất lâu trong nền văn minh cổ Đông phương và tất nhiên, nó không thể thuộc về nền văn minh Hoa Hạ. Không thể có một sự chứng minh nào hợp lí hơn là: nền văn minh Lạc Việt chính là chủ nhân đích thực của học thuyết này (1) Ở đây, người viết không có ý định chứng minh tính khoa học hoặc phi khoa học của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Nhưng trong khả năng có hạn, người viết chỉ nhằm chứng minh tính hợp lí cho những hiện tượng liên quan đến nó, nhằm minh chứng cho nền văn hiến trải hàng ngàn năm của dân tộc Việt. Bởi vì sự tồn tại và phổ biến của một học thuyết vũ trụ quan hoàn chỉnh và hợp lí với chính nó – cho dù đúng hay sai – sẽ chứng tỏ một xã hội phát triển và tồn tại lâu dài với một nền văn minh rực rỡ trong những mối quan hệ xã hội của nền văn minh đó. (Ý nghĩa của một số bức tranh đông hồ)

Trong văn hóa dân gian Việt Nam, hình ảnh con gà có một vị trí quan trọng. Thậm chí trong tín ngưỡng dân gian với tục thờ Mẫu, Thánh, Ngũ Phủ công đồng; ở những nơi này biểu tượng con gà được đứng ở vị trí trang trọng trước điện thờ tiên thánh.

Trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam có một hiện tượng rất đáng chú ý. Đó là giá chầu “Cô Chín”, theo truyền thuyết đây là vị thần chuyên phụ trách bói toán. Như vậy, hình tượng con gà trong tranh dân gian Việt Nam và con gà trong tín ngưỡng thờ Thánh, cùng có chung một cội nguồn văn hóa Lạc Việt và gắn liền với việc “bói toán”. Như đã trình bày ở phần trên, hình tượng con gà dùng vào việc bói toán xưa nhất theo bản văn cổ chữ Hán là Hồng phạm cửu trù. Nhưng sử dụng hình ảnh con gà như là một biểu tượng của sự bói toán lại phổ biến trong tín ngưỡng dân gian và trong di sản văn hóa truyền thống Việt Nam.

Điều này là một sự minh chứng rõ nét, bổ sung cho quan niệm rằng: Hồng phạm cửu trù được nhắc tới trong Kinh Thư, chính là một di sản văn hóa của người Lạc Việt và là bản hiến pháp cổ nhất của nước Văn Lang, cội nguồn của nền văn hiến trải gần 5000 năm của nước Việt Nam hiện nay . Hình tượng “con gà” trong văn hóa dân gian Việt Nam, chính là sự bảo chứng cho quan niệm này.

Cuối cùng chúng sẽ đến với bức tranh Chọi Trâu:

tranh-choi-chau

Tranh Chọi Châu

Nội dung trực tiếp của bức tranh này thể hiện một tục lệ thường thấy trong lễ hội ở một số địa phương của Việt Nam. Giữa tranh là một lá cờ truyền thống thường gặp trong các lễ hội dân gian, quen gọi là cờ Ngũ sắc. Trên lá cờ có ghi dòng chữ “Hội chí lầu”. Phía sau hai con trâu là hai tấm bảng có chữ “Đông xã” và “Tống xã?”. Nếu hiểu theo nghĩa trực tiếp và gần gũi là trâu của xã Đông và xã Tống chọi nhau. Với cách hiểu này thì hai cái bảng trên bức tranh và dòng chữ “Hội chí lầu” sẽ là chi tiết thừa. Người ta chỉ cần thể hiện lá cờ biểu tượng cho lễ hội và hai con trâu là đủ. Xã Đông và xã Đoài, thôn Thượng và thôn Hạ, tổng Bắc và tổng Nam cũng có thể đem trâu chọi thi vậy? Nhưng những chi tiết này sẽ không thừa một chút nào, nếu chúng ta đặt vấn đề về nội dung sâu xa của bức tranh này. Giá trị của hình ảnh hai tấm bảng và lá cờ chính là tính hướng dẫn để tìm hiểu nội dung đích thực của nó.

Ý nghĩa của một số bức tranh đông hồ

Chính chữ “xã” trên bức tranh có bộ “thổ” nghĩa là “đất”; chữ “lầu” là nhà cửa; chữ “chí” trên lá cờ có nghĩa là sự cản trở, sự khó khăn phải vượt qua; chữ “hội” nghĩa là sự tập trung cho một vấn đề, mục đích…. Hình tượng con trâu – trong kinh Dịch là quái Khôn (tức Địa – đất), Thuyết quái viết: “Khôn vi địa,… vi tử mẫu NGƯU…”. Từ những ý nghĩa trên cho chúng ta một ý nghĩa gần gũi và liên hệ đến thuật Phong thủy Đông phương. Vì vậy, có thể hiểu rằng: hai tấm bảng và lá cờ trên muốn nói tới tính chất đối nghịch của Đông trạch và Tây trạch trong thuật Phong thủy (qua hình tượng hai con trâu chọi nhau). Theo quan niệm của thuật Phong thủy thì địa bàn chia làm tám hướng; trong đó có 4 hướng thuộc Đông trạch và 4 hướng thuộc Tây trạch. Tên gọi đủ của khái niệm này là: Đông tứ trạch và Tây tứ trạch. Nếu mọi chuyện chỉ dừng ở đây thì bức tranh này về nội dung sẽ không hơn một cuốn sách dạy về thuật phong thủy Đông phương phổ biến trên khắp thế giới, những ai có tìm hiểu về thuật Phong thủy đều biết điều này.

Trên đây là bài viết về Ý Nghĩa Của Một Số Bức Tranh Đông Hồ. Hy vọng qua bài viết này sẽ mang lại cho các bạn, những người yêu tranh hiểu thêm về nghệ thuật độc đáo của dòng tranh dân gian này.

Ý nghĩa của một số bức tranh đông hồ

( Tranh đẹp Việt Nam sưu tầm và tổng hợp )

Trả lời

Tranh Đẹp Việt Nam